NỘI DUNG CHÍNH

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phan Duy Nghĩa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    11 khách và 1 thành viên
  • Đinh Thị Tú
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thích Mục nào nhất ?
    Thông báo, trao đổi
    Olympic Toán Tuổi thơ
    Tiếng nói từ cơ sở
    Mô hình dạy học mới
    Sau giờ lên lớp

    GHÉ ZÔ ! GHÉ ZÔ !

    • icon-new

    GDTH Hà Tĩnh

    Giáo dục tiểu học là cấp học nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân, đây là cấp học vô cùng quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách con người. Vì vậy nếu giáo dục tiểu học được triển khai tốt, chắc chắn, đúng hướng sẽ có tác động một cách bền vững tới các bậc học tiếp theo. Với tầm quan trọng như vậy, thời gian qua, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh đã tích cực tiếp cận đổi mới công tác quản lý chỉ đạo, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu của giáo dục trong nước và quốc tế đối với giáo dục tiểu học, để từng bước đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, như: Thực hiện Mô hình trường học mới Việt Nam – VNEN; Triển khai dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo Tài liệu Công nghệ giáo dục; Áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”; Giáo dục Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch. Song song với việc thực hiện tốt các mô hình dạy học mới, giáo dục tiểu học Hà Tĩnh còn có những cách làm mới, sáng tạo của riêng mình, đó là: Xây dựng quy hoạch, mở rộng diện tích các nhà trường; Xây dựng thư viện trường học; Tổ chức bán trú cho học sinh; Tăng cường giáo dục kĩ năng sống; Đưa dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vào các trường tiểu học. Những hoạt động này thật sự đã góp phần làm cho giáo dục tiểu học Hà Tĩnh phát triển một cách bền vững, là bước đi đầu tiên khả quan, thực sự có ý nghĩa tiếp cận mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT mà Nghị quyết số 29 của BCHTW khoá XI đã chỉ ra. Hành trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đang ở chặng đường đầu tiên, việc tiếp cận cái mới, tiên tiến từ bỏ cái cũ, cái không còn phù hợp là rất khó khăn. Khó khăn hơn là làm sao thực hiện thành công cái mới mà đạt được kết quả như mong đợi, đó là tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục. Trên hành trình đổi mới và vượt khó này để thành công đòi hỏi sự nổ lực rất lớn của các nhà quản lý giáo dục, đặc biệt đội ngũ hiệu trưởng, giáo viên. Bên cạnh đó không thể thiếu sự đồng thuận, sự chung tay, tham gia tích cực của toàn xã hội./.

    Gốc > Chuyên đề: Phát triển năng lực > Lý thuyết >

    chuyên đề :Qui trình Quy trình dạy mẫu vần CNGD lớp 1.”

    CHUYÊN ĐỀ: : Quy trình dạy mẫu vần CNGD lớp 1.

    Nôi dung:

    I.Chuyên đề: Quy trình dạy mẫu vần CNGD lớp 1.

    Quy trình dạy mẫu vần có gì khác so với mẫu âm?

    Thực ra mẫu vần cũng quy trình 4 việc, kế thừa các thao tác, các kĩ năng đã học ở các mẫu trước, đặc biệt là mẫu âm.Tuy nhiên ở mẫu âm, trong việc 1, thao tác 1c: Vẽ mô hình, để đưa tiếng vào mô hình vì HS chưa biết viết chữ ghi âm mới nên phải tạm thời để trống 1 thành phần trên mô hình, để chuyển sang việc 2 tập viết chữ ghi âm mới, rồi lại quay về việc 1 đưa tiếng vào mô hình.Sau đó mới sang thao tác tìm tiếng (thao tác 2c).Cho nên khi đọc STK một số GV hiểu nhầm là thao tác 2c là của việc 2 nên khi trình bày bảng viết vào việc 2 hoặc việc 3.Còn sang mẫu vần, quy trình và các thao tác theo thứ tự rõ ràng, đọc TK (thiết kế) dễ hiểu, dễ thực hiện hơn.(thao tác 2c ở mẫu âm chính là thao tác 1d ở mẫu vần).Quy trình được thực hiện như sau:

    Việc 0:

    Kiểm tra kiến thức tiết học trước.

    Việc 1: Học vần mới.

    1a.Giới thiệu tiếng mới, phát âm/nhắc lại vần vừa học, thay một thành phần.

    1b.Phân tích tiếng/vần.

    1c.Vẽ mô hình

    1d.Tìm tiếng có vần mới.

    Việc 2: Viết

    2a.Viết bảng con (chữ ghi vần và chữ ghi tiếng, từ có ở vở em tập viết)

    2b.Viết vở em tập viết.

    Việc 3: Đọc

    3a.Đọc chữ trên bảng lớp (Ghi các tiếng, từ khó đọc hoặc chứa luật chính tả)

    3b.Đọc sách Tiếng Việt.

    (Luyện đọc từng trang, mỗi trang chia ra từng phần để luyện đọc: trang chẵn bắt buộc, trang lẻ phần bài đọc: phân hóa đối tượng)

    Việc 4: Viết chính tả

    4a.Viết các tiếng khó vào bảng con hoặc vở nháp (nếu viết vở nháp thì đồng thời cho 1 HS viết trên bảng lớp để đối chiếu)

    4b.Viết vào vở chính tả (Theo quy trình chung, tuy nhiên đến thời điểm này GV có theer tăng số tiếng khi đọc cho HS viết, khi HS đã quen thì không cần phân tích nữa, tốc độ viết cũng tăng dần).

    4c.Thu vở, sửa chữa, nhận xét để HS rút kinh nghiệm.

    Một số lưu ý khi dạy kiểu vần:

    Cũng như mẫu đã học, công đoạn lập mẫu phải thật chi tiết để HS ý thức được từng việc mình làm chứ không phải bắt chước theo.

    -         Vần có âm cuối: n, m, ch, nh, i (y), o (u) kết hợp được với cả 6 hanh.

    -         Các vần có âm cuối: t, p, c, ch chỉ kết hợp được 2 thanh:thanh sắc và thanh nặng.(HS ghi nhớ luôn khi tìm tiếng)

    -         Đối với các lớp mà dự kiến bài 4 – 6 vần không thể hoàn thành cả 4 việc trong 2 tiết thì đề xuất với nhà trường, tổ CM để tăng thời lượng, đảm bảo HS học đến đâu chắc đến đó.Tăng 2 tiết thành 4 tiết (mỗi việc 1 tiết) bù chương trình trong các tiết luyện tâp.

    -         Khi tiến hành dạy việc 3, việc 4 phải khôi phục phần bảng của việc 1, việc 2.

    -         Đối với Mẫu Nguyên âm đôi:

    + Để HS nhận ra được tính chất của nguyên âm đôi, khi phát âm GV chú ý kéo dài âm đó để HS nhận ra có 2 âm:

    VD: /iê/ (đọc là ia) nghe vùa có âm /i/ vừa có âm / ê/.

    + Để HS nắm chắc luật chính tả Nguyên âm đôi (hay LCT khác) trước khi giới thiệu LCT GV nên chú ý tạo ra tình huống chính tả, cho HS nhận xét, rút ra LCT và ghi nhớ.

    VD: Em viết tiếng /yến/, có thể HS viết iến hoặc yến.

    GV hướng dẫn: Một nguyên âm /ia/ trong vần có âm cuối ghi bằng 2 chữ: iê và yê

    Dùng iê để ghi tiếng có âm đầu và âm cuối: kiến, biển,..

    Dùng yê nếu tiếng có âm cuối nhưng không có âm đầu: yến, yết, yểng,...

    Vậy theo luật chính tả nguyên âm đôi chữ yến viết bằng y.

    Chuyên đề trên được thực hiện vào dạy vần /inh/, /ich/ do 2 đ/c lớp 1B và lớp 1C thực hiện.

     

    II. GIÁO ÁN DẠY THỂ NGHIỆM CHUYÊN ĐỀ:

    Giáo án: TV CNGD Mẫu 1. Ba

    Bài: Luật chính tả E, Ê, I (Tiết 1)

    Việc 1: Ôn luật chính tả

    1a.Giới thiệu tiếng

    T: Viết ở bảng: ca / ki

                          ga / ghe

                          nga / nghê

    T: Đọc trơn các tiếng viết ở bảng.

    H: ca, ki, ga, ghe, nga, nghê.

    1b.Phân tích tiếng

    T: Yêu cầu H đọc phân tích các tiếng ca / ki

    H: ca - / cờ / - / a / - / ca /.

         Ki - / cờ / - / i / - / ki / .

    T: Cùng một âm / cờ /, vì sao khi viết bằng con chữ c, khi viết bằng con chữ k?

    H: Nhắc lại luật chính tả: Âm / cờ / đứng trước âm / e/, / ê /, /i / phải viết bằng con chữ k ( đọc là ca)

    H: Nhắc lại nhiều lần ( T- N – N –T )

    T: Đọc phân tích tiếng ga / ghe

    H: ga - / gờ / - / a / - / ga /.

         ghe - / gờ / - / e / - / ghe / .

    T: Vì sao viết một âm  / gờ / lại có hai con chữ g / gh?

    H: Nhắc lại luật chính tả: Âm / gờ / đứng trước âm / e/, / ê /, /i / phải viết bằng con chữ gh ( đọc là gờ kép)

    H: Nhắc lại nhiều lần ( T- N – N –T )

    T: Đọc phân tích tiếng nga / nghê

    H: nga - / ngờ / - / a / - / nga /.

         nghê - / ngờ / - / ê / - / nghê / .

    T: Vì sao viết một âm  / ngờ / lại viết bằng hai con chữ khác nhau ng / ngh?

    H: Nhắc lại luật chính tả: Âm / ngờ / đứng trước âm / e/, / ê /, /i / phải viết bằng con chữ ngh ( đọc là ngờ kép)

    H: Nhắc lại nhiều lần ( T- N – N –T )

    T: cho H giải lao trò chơi “ Trời nắng trời mưa”

    Việc 2. Viết

    2a.Viết bảng con

    T: Đọc cho H viết: ca, ki, ga, ghe, nga, nghê.

    H: Viết ở bảng con.

    2b.Viết vở “Em tập viết – CGD lớp 1” tập 2.

    T: Nêu yêu cầu nội dung viết: cò kè, ghế gỗ, nghi ngờ.

    T: Viết mẫu: cò kè, ghế gỗ, nghi ngờ. Lên bảng lớp.Hướng dẫn H cách viết và nhắc H chú ý viết đúng khoảng cách giữa các chữ.

    H: Viết vào vở.

    T: Quan sát, uốn nắn để H viết đúng.

    T: Chấm bài nhận xét tiết học.


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Thị Thương @ 21:11 10/11/2017
    Số lượt xem: 42
    Số lượt thích: 1 người (Lê Thị Thúy Hà)
     
    Gửi ý kiến