NỘI DUNG CHÍNH

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phan Duy Nghĩa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    16 khách và 0 thành viên

    Điều tra ý kiến

    Bạn thích Mục nào nhất ?
    Thông báo, trao đổi
    Olympic Toán Tuổi thơ
    Tiếng nói từ cơ sở
    Mô hình dạy học mới
    Sau giờ lên lớp

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anhr1.JPG Beauty1557707175580.JPG Beauty1557793189242.JPG Beauty1557792932660_1.JPG IMG20190419163021.jpg IMG20190419162910.jpg IMG_0087.JPG IMG_0102.JPG 20190419_164002.jpg IMG_1555691532694_1555691668851.jpg 20190412_084003.jpg Hiens_mau.jpg Hien_mau.jpg TTKP.jpg Ket_nap_doi.jpg Ghthap_huong.jpg Gh_thap_huong.jpg Gh_tap_the.jpg Gh9.jpg Gh8.jpg

    GHÉ ZÔ ! GHÉ ZÔ !

    • icon-new

    GDTH Hà Tĩnh

    Giáo dục tiểu học là cấp học nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân, đây là cấp học vô cùng quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách con người. Vì vậy nếu giáo dục tiểu học được triển khai tốt, chắc chắn, đúng hướng sẽ có tác động một cách bền vững tới các bậc học tiếp theo. Với tầm quan trọng như vậy, thời gian qua, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh đã tích cực tiếp cận đổi mới công tác quản lý chỉ đạo, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu của giáo dục trong nước và quốc tế đối với giáo dục tiểu học, để từng bước đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, như: Thực hiện Mô hình trường học mới Việt Nam – VNEN; Triển khai dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo Tài liệu Công nghệ giáo dục; Áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”; Giáo dục Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch. Song song với việc thực hiện tốt các mô hình dạy học mới, giáo dục tiểu học Hà Tĩnh còn có những cách làm mới, sáng tạo của riêng mình, đó là: Xây dựng quy hoạch, mở rộng diện tích các nhà trường; Xây dựng thư viện trường học; Tổ chức bán trú cho học sinh; Tăng cường giáo dục kĩ năng sống; Đưa dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vào các trường tiểu học. Những hoạt động này thật sự đã góp phần làm cho giáo dục tiểu học Hà Tĩnh phát triển một cách bền vững, là bước đi đầu tiên khả quan, thực sự có ý nghĩa tiếp cận mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT mà Nghị quyết số 29 của BCHTW khoá XI đã chỉ ra. Hành trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đang ở chặng đường đầu tiên, việc tiếp cận cái mới, tiên tiến từ bỏ cái cũ, cái không còn phù hợp là rất khó khăn. Khó khăn hơn là làm sao thực hiện thành công cái mới mà đạt được kết quả như mong đợi, đó là tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục. Trên hành trình đổi mới và vượt khó này để thành công đòi hỏi sự nổ lực rất lớn của các nhà quản lý giáo dục, đặc biệt đội ngũ hiệu trưởng, giáo viên. Bên cạnh đó không thể thiếu sự đồng thuận, sự chung tay, tham gia tích cực của toàn xã hội./.

    Gốc > Chuyên đề: Phát triển năng lực > Lý thuyết >

    Các biện pháp thực hiện rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3

                                                         

              CHUYÊN ĐỀ: Các biện pháp thực hiện rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 3

    1. 1.     Hướng dẫn học sinh cách phát âm, cách viết đúng

              Muốn khắc phục tình trạng học sinh viết sai chính tả, trước hết người giáo viên phải phát âm đúng, chuẩn tiếng Việt. Cần rèn cho học sinh cách phát âm đúng, hướng dẫn các em phân biệt các dấu thanh, âm đầu, âm chính, âm cuối qua các tiết tập đọc và các môn học khác và phải được thực hiện thường xuyên, liên tục,..  không những rèn luyện cho học sinh viết đúng chính tả ở phân môn chính tả mà còn phải viết đúng ở tất cả các môn học khác. Giáo viên cần phải quan tâm, chú trọng sửa sai lỗi chính tả cho học sinh thường xuyên ở tất cả các môn học, tăng cường kiểm tra vở viết của học sinh, thu thập các loại lỗi chính tả của học sinh lớp mình để có biện pháp hướng dẫn và rèn cho học sinh viết đúng chính tả.

              Ví dụ: Thói quen phát âm sai ở địa phương, vùng miền dẫn đến hiện tượng viết sai chính tả như: ăn cơm - en cơm; cái vung - cái dung; đi về - đi dề … Vì vậy giáo viên phải phát âm đúng, rõ ràng và uốn nắn cho các em phát âm đúng để viết đúng.

              - Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ: Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:

    + Muống =  M + uông + thanh sắc

              + Muốn = M + uôn + thanh sắc

              So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng”, tiếng “muốn” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai.

    Việc đọc đúng, rõ ràng rành mạch, mạch lạc, đọc hay, đọc chuẩn của giáo viên là quan trọng nhất. Không những đọc đúng mà còn phải viết đúng, đẹp, đúng quy cách chữ hiện hành do Bộ Giáo dục quy định. Trình bày khoa học trong dạy học (nhất là ghi trên bảng lớp, vì chữ viết chính là dụng cụ trực quan hữu hiệu mà các em có thể dựa vào đó để bắt chước, rèn luyện).

    Như chúng ta đã biết muốn viết đúng thì phải đọc đúng. Vì vậy khi hướng dẫn học sinh viết chính tả phải hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ nhất là khi phân tích từ khó, tiếng khó. Giáo viên vừa cho học sinh viết, vừa đánh vần kết hợp với đọc để khi các em viết đỡ bị sai.

    Hướng dẫn viết chữ đầu câu (Viết hoa chữ cái đầu tiếng); Danh từ riêng phải viết hoa. Tùy từng bài cụ thể mà giáo viên hướng dẫn học sinh viết hoa danh từ riêng cho đúng với quy tắc. Sau dấu câu phải viết hoa chữ cái đầu câu. Đối với bài văn viết thụt vào một ô li chữ đầu bài và sau khi hết một đoạn so với lề vở. Đối với bài thơ có 4,5 tiếng thì các chữ đầu dòng thơ phải viết hoa chữ cái đầu của tiếng và viết bằng nhau (các chữ đầu dòng thơ phải viết thẳng hàng). Bài thơ lục bát phải trình bày theo thể thơ: Dòng 6 tiếng viết thụt lùi vào 2 ô li so với lề vở, dòng thơ 8 tiếng dịch ra 1 ô li so với lề vở và cứ như thế cho đến hết bài thơ. Các chữ đầu dòng thơ đều phải viết hoa, ….

    2. Hướng dẫn cho học sinh ghi nhớ về quy tắc Chính tả

    Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh phát âm đúng, viết đúng giáo viên cũng cần phải trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về ngữ âm, nghĩa của từ có liên quan đến chính tả  để phân loại lỗi chính tả, phát hiện đặc điểm của từng loại lỗi, nhất là việc xây dựng các qui tắc chính tả để giúp học sinh ghi nhớ cách viết một cách khái quát có hệ thống.

             Ví dụ

              +  Khi đứng trước các nguyên âm: i, iê, ê, e âm “cờ” viết là k (kỉ, kiểm, kiệm, kể, kê, kẻ, kiểng, ...)

              +  Khi đứng trước các nguyên âm còn lại o, ô, ơ, a, u, ư âm “cờ” viết là c (co, cô, ca, cá, cù, cứ, cự, ...)

              +  Khi đứng trước các nguyên âm: i, ê, e âm “gờ” viết là gh (ghi, ghé, ghe, ghế, ....)

    +  Khi đứng trước các nguyên âm còn lại o, ô, ơ, a, u, ư  âm “gờ” viết là g (gà, gô, gỗ, gò, gù, gừ,...)

              +  Khi đứng trước các nguyên âm: i, iê, ê, e âm “ngờ” viết là ngh (nghi, nghe, nghề, nghiêm, nghiêng, ...)

    +  Khi đứng trước các nguyên âm còn lại o, ô, ơ, a, u, ư âm “ngờ” viết là ng (ngã, ngõ, ngô, ngư, ngủ, ...)

               +  Khi đứng trước âm đệm u thì âm “cu” viết là q. Ví dụ: qua, quả, quá, quyết, quét,....

    3. Giúp học sinh hiểu ý nghĩa của từ

    Khi  dạy  chính tả giúp học sinh hiểu nghĩa của từ là rất quan trọng. Các em hiểu nghĩa từ thì sẽ viết  đúng. Vì vậy đối với các từ mới, từ khó, từ nhiều nghĩa, ... giáo viên cần phải giải nghĩa từ để học sinh hiểu được nghĩa của từ viết đúng chính tả. Thông qua các  môn học Tập đọc, Luyện từ và câu,  tôi còn giúp các em có vốn từ  rất phong phú thông qua các trò chơi học tập như  “Bộ sưu tập từ của em”.

    Ví dụ :

    Dạy bài chính tả nghe viết: Một nhà thông thái

    Qua bài tập 3a tìm những tiếng bắt đầu bằng r/d/ gi.

    Tôi cho các em tìm những từ theo nội dung bài tập yêu cầu (theo nhóm). Sau đó cho các em tổng hợp từ vào bảng nhóm theo cột (làm bộ sưu tập từ) của nhóm cho các em trình bày, nhóm nào có nhiều từ hơn và giải nghĩa đúng là nhóm thắng cuộc, tuyên dương.

    Sau khi các bạn trình bày học sinh dưới lớp đặt câu hỏi cho đội bạn giải nghĩa từ.

    4. Hướng dẫn học sinh một số mẹo viết đúng chính tả

    Bên cạnh việc dạy cho các em nắm vững qui tắc chính tả, giáo viên cần chỉ cho các em mẹo viết đúng chính tả.

    Những từ nghi ngờ viết tr hay ch, giáo viên cho học sinh nhận biết đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng “ch” như : chăn, chiếu, chảo, chổi, chày, chén, chum, chõng, chậu, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, chóe, … Tên con vật: chồn, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chào mào, chiền chiện, chèo bẻo, chìa vôi, …

              s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bàng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sậy, sấu, sến, sầu riêng, …      Tên con vật: sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, săn sắt, sư tử, sơn dương, …

             - Đối với các loại lỗi do không nắm vững âm tiết tiếng Việt dẫn đến viết thừa, viết thiếu, dẫn đến viết sai chính tả. Giáo viên cần phân tích cho học sinh nắm vững cấu trúc âm tiết tiếng Việt gồm các thành phần như : phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối. Ví dụ tiếng “toàn” (phụ âm đầu là “t”, âm đệm là “o”, âm

    chính là “a”, âm cuối là “n”.

              5. Tăng cường cho học sinh luyện tập, thực hành viết chính tả

    Việc tăng cường cho học sinh thực hành, luyện tập viết chính tả nhằm hình thành các kĩ năng, kĩ xảo chính tả. Cần kết hợp áp dụng các nguyên tắc dạy học “nguyên tắc phối hợp giữa phương pháp tích cực với phương pháp tiêu cực”, tức là xây dựng cái đúng loại bỏ cái sai. Giáo viên đưa ra những trường hợp viết sai chính tả, hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa, rồi từ đó hướng cho học sinh đi đến cái đúng. Hay nói cách khác, việc hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả cần tiến hành đồng thời với việc hướng dẫn học sinh loại bỏ các lỗi chính tả trong các bài viết. Giáo viên có thể nêu ra những đoạn văn, đoạn thơ trong đó có nhiều từ viết sai chính tả để học sinh tự mình phát hiện lỗi, tìm hiểu nguyên nhân sai và chữa lại cho đúng.

              - Giáo viên cũng có thể cho học sinh về nhà chép các bài tập đọc vào vở luyện viết ở nhà, làm như vậy sẽ có hai tác dụng các em vừa đọc trước nội dung bài tập đọc đến tiết học tập đọc các em đọc nhanh hơn, hiểu bài hơn, tìm hiểu nội dung bài cũng nhanh hơn, thứ hai các em được rèn luyện chữ viết vì vậy chữ viết của các em ngày càng đẹp hơn và ít sai lỗi hơn, viết cũng nhanh hơn...

              6. Làm các bài tập chính tả

              Việc làm các bài tập chính tả là một trong các biện pháp tốt để giúp các em viết đúng chính tả. Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quên với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ.

              Sau đây là một số dạng bài tập để giúp học sinh rèn kỹ năng viết đúng chính tả.

              a. Các dạng bài chính tả phụ âm đầu:

              + Tìm chữ (tr hay ch) điền vào chỗ trống: Bài tập 2 a) - TV3, Tập 1, trang 36.

              - Cuộn …òn, …ân thật, chậm …ễ

              +  Chọn chữ r, d hay gi để điền vào chỗ trống ?  - (TV3, Tập 1, trang 106)

                           Ó o từ gốc cây …ơm

                  Chú gà phát lệnh thổi cơm khắp vùng.

                         Ông trời bật lửa đằng đông

                 Cả làng nhóm bếp bập bùng ban mai.

                         Mẹ …a kéo nước …ếng khơi

                Chị Mây … ậy muộn ngượng cười lên theo.

                                                  (Nguyễn Ngọc Oánh)

              + Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng l hay n, có nghĩa như sau: (TV3, Tập 1, trang 106)

              - Cùng nghĩa với hiền.

              - Không chìm dưới nước.

              - Vật dùng để gặt lúa, cắt cỏ.

              + Chọn chữ trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống: (TV3, Tập 1, trang 22)

    -         (xấu/ sấu): cây … , chữ …               

    -         (sẻ/xẻ): san …  , …  gỗ

    -         (sắn/xắn):  … tay áo, củ …                       

              b. Các dạng bài tập chính tả phần vần:

              + Chọn chữ trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống: (TV3, Tập 1, trang 23).

    - (căn/căng): kiêu … , … dặn

    - (nhằn /nhằng): nhọc … , lằng …

    - (vắn/vắng): … mặt, … tắt

              + Tìm từ chứa tiếng có vần ân hoặc âng, có nghĩa như sau: (TV3, Tập 1, trang 53).

              - Khoảng đất trống trước hoặc sau nhà: ….

              - Dùng tay nhẹ nhàng đưa một vật lên: ….

              - Cùng nghĩa với chăm chỉ: …

              +  Điền vào chỗ trống en hay oen ? (TV3, Tập 1, trang 93)

              - Nhanh nh....                                     - nh…  miệng cười

              - sắt h…  gỉ                                        - h....  nhát

    c. Bài tập tìm từ: Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ cùng nghĩa, trái nghĩa:

              + Trò chơi Tìm từ viết đúng: (TV3, Tập 1, trang 74).

    - Đọc thẻ từ, chọn các từ ngữ viết đúng chính tả ghi vào bảng nhóm.

                           
           
                       
     

     

     

            Kheo            khoeo            người            người              nghéo            ngoéo

            chân              chân            lẻo khẻo      loẻo khoẻo           tay                 tay

     

              + Tìm từ đúng: (TV3, Tập 1, trang 9)

               
               

     

     

               Ngọt ngào                       ngọt ngoào                        ngoao ngán

               
         
         
       
     
     

     

     

                               Ngao ngán                  nghêu ngoao                  nghêu ngao

              + Trò chơi Ghép chữ : (TV3, Tập 1, trang 26).

    Tìm tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau để tạo từ ngữ:

               - gắn, gắng ;   nặn, nặng ;   khăn, khăng

              Giúp học sinh ghép đúng:

              - gắn: gắn bó, hàn gắn, gắn kết,… gắng: cố gắng, gắng sức, gắng lên,…

              - nặn: nặn tượng, nặn óc nghĩ, nhào nặn,… nặng: nặng nhọc, nặng nề, …

    - khăn: khăn tay, khăn quàng, cái khăn,… khăng: khăng khăng, khăng khít,…

              + Trò chơi thi tìm từ nhanh: : (TV3, Tập 1, trang 79).

      Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng s hoặc x, có nghĩa như sau:

                - Cùng nghĩa với chăm chỉ.

                - Trái nghĩa với gần.

                   - (Nước) chảy rất mạnh và nhanh.

              d. Các dạng bài tập chính tả về dấu thanh:

              + Tìm dấu (dấu hỏi hay dấu ngã) đặt trên chữ in đậm: (TV3, Tập 1, trang 36).

                    - Vừa dài mà lại vừa vuông

               Giúp nhau ke chỉ, vạch đường thăng băng

                    Tên nghe nặng trịch

                    Lòng dạ thăng băng

                    Vành tai thợ mộc nằm ngang

                    Anh đi học ve, săn sàng đi theo.                

              + Tìm các từ chứa tiếng có thanh hỏi hoặc thanh ngã có nghĩa như sau:

                    - Trái nghĩa với đóng.

                    - Nhiều thức ăn ngon bày trên mâm.

                    - Bộ phận ở trên mặt dùng để thở và ngửi.

    e. Bài tập giải câu đố:

              + Điền vào chỗ trống và giải câu đố: iên hay iêng ? (TV3, Tập 1, trang 89).

                             Trên trời có g…  nước trong

                       Con k. . . chẳng lọt, con ong chẳng vào.

                                                       (Là quả gì ?)

    +  Điền vào chỗ trống và giải câu đố (TV3, Tập 1, trang 88).

                         Mình … òn, mũi nhọn

                         Chẳng phải bò … âu

                         Uống nước ao sâu

                         Lên cày ruộng cạn

                                     (Là cái gì ?)

    + Tìm chữ (d hay r) điền vào chỗ trống và giải câu đố. (TV3, Tập 1, trang 49).

              a)       Hòn gì bằng đất nặn …a

                   Xếp vào lò lửa nung ba bốn ngày,

                        Khi ra, … a đỏ hây hây

                  Thân hình vuông vắn đem xây cửa nhà.

              b)      Trắng phau cày thửa … uộng đen

                   Bao nhiêu cây trắng mọc lên thành hàng.

           Ngoài các bài tập trên, giáo viên còn có thể tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi viết đúng chính tả qua các buổi học phụ đạo, tăng cường tiếng Việt với các dạng bài tập ngoài bài. Nội dung các bài tập giáo viên đưa ra phải phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm gây sự hứng thú trong giờ học, vừa giúp các em nắm vững qui tắc viết chính tả từ đó viết đúng chính tả.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thị Thu Hiền @ 10:28 04/05/2019
    Số lượt xem: 18
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến