Gốc > Mô hình dạy học mới > Mô hình VNEN >

CHIA SẺ CỦA PHÓ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC GIA PHỐ - HƯƠNG KHÊ, VỀ VIỆC TRIỂN KHAI MÔ HÌNH VNEN

I. Dạy học theo mô hình VNEN:

Khi được Phòng Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ triển khai dạy thí điểm theo mô hình trường học mới VNEN cùng với 4 trường khác ở hai khối lớp (lớp 2 và lớp 3) mỗi khối 4 lớp; bước vào năm học mới chúng tôi rất hứng khởi và hồi hộp, chờ đợi và hình dung ra đó là một con đường bằng phẳng! Đầu tiên, chúng tôi họp cấp ủy, chi bộ, Ban giám hiệu báo cáo sơ bộ về mô hình này sau đó triển khai tới các đồng chí giáo viên dự kiến dạy VNEN. Giữa tháng 8 Sở Giáo dục và Đào tạo mở lớp tập huấn cho giáo viên và ban giám hiệu các trường giao nhiệm vụ triển khai dạy thí điểm theo mô hình trường học mới VNEN ở hai khối lớp (lớp 2 và lớp 3). Khi đi tập huấn chúng tôi mới thấy để dạy VNEN không đơn giản chút nào. Đòi hỏi giáo viên phải giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, linh hoạt, sáng tạo và phải thực sự tâm huyết với nghề, chịu khó tìm tòi, nhạy bén, có tinh thần trách nhiệm cao thì mới tổ chức tốt được lớp học này. Và nếu chỉ có giáo viên không chưa đủ, để học sinh có môi trường học tập sinh động, thân thiện, hoạt động dạy và học có kết quả tốt phải có sự vào cuộc của cha mẹ học sinh. Lúc đó BGH và GV chúng tôi rất lo lắng, trăn trở: Từ năm học 2013-2014 PGD đã cho tiếp cận cách dạy học này ở trường TH Hương Trà, sau khi dự giờ được trao đổi về tính ưu việt của mô hình, hình thức tổ chức dạy và học, nhưng không biết giáo viên chúng tôi có dạy được không? Chất lượng thế nào? cha mẹ học sinh có ủng hộ không? Kinh phí trang trí lớp lấy ở đâu?...

Chúng tôi tổ chức họp Ban đại diện cha mẹ HS của trường và cha mẹ học sinh của 8 lớp dạy học VNEN. Điều ban đầu chúng tôi nhận được từ phía cha mẹ học sinh là sự băn khoăn, lo lắng: HS tự học thì làm sao mà nắm được kiến thức! nào là đừng lấy con chúng tôi ra làm “thí điểm”! Chúng tôi biết cái gì mà đánh giá! trăm sự chúng tôi đã nhờ các thầy cô bây giờ chúng tôi phải đánh giá, phải hỏi bài con, nghe con kể chuyện…thì chúng tôi không làm được! Chúng tôi biết gì mà trang trí lớp học, chúng tôi đi làm, đi chợ cả ngày không có thời gian! Con chúng tôi ở nông thôn làm sao làm được những việc đó! Học nhóm suốt buổi như vậy, những học sinh yếu, trung bình sẽ nói chuyện, ỷ lại vào các bạn, giáo viên không có thời gian kềm cặp những học sinh yếu….

     Trước bao khó khăn mà cha mẹ học sinh đặt ra cho chúng tôi cũng chính là những băn khoăn, lo lắng dự kiến sẽ xảy ra khi thực hiện mô hình này. Tôi mạnh dạn đề nghị HT tổ chức cho các cô giáo dạy VNEN của 8 lớp học VNEN và GV dạy kê lớp 2-3 tiếp tục đi tham quan mô hình tại TH Hương Trà, yêu cầu GV tìm hiểu GV Hương trà về cách tổ chức HĐ nhóm hiệu quả, mục đích, cách xây dựng, sử dụng các công cụ để tổ chức hoạt động của HĐTQ học sinh…. và tìm hiểu thông tin trên mạng Intenet sau đó về trường chúng tôi tiếp tục cho họp giáo viên chủ nhiệm 8 lớp và ban đại diện cha mẹ học sinh, nghe các bậc cha mẹ học sinh phát biểu ý kiến sau khi được nghe cô giáo nói rõ về tổ chức lớp học mô hình này và Phụ huynh được xem: Tài liệu HDH- biết được tài liệu dạy và học các lớp VNEN được xây dựng 3 trong 1 rất tiện lợi cho giáo viên, học sinh và CMHS. Sách có lô gô kênh hình, kênh chữ rõ ràng giúp học sinh dễ học, dễ hiểu. Tranh ảnh đẹp, tạo hứng thú và thu hút học sinh, từ đó phụ huynh bước đầu đồng tình ủng hộ. Qua cuộc họp phụ huynh đầu năm, Các bậc cha mẹ học sinh đã phát biểu: “Nếu được học ở lớp học như thế này, các con làm được như vậy thì tốt quá”; các bậc phụ huynh có nhận thức khác hẳn. Phấn khởi, hồ hởi bắt tay vào trang trí lớp học, làm một số đồ dùng học tập. Thế là tháo gỡ khó khăn ban đầu của trường chúng tôi khi triển khai mô hình mới VNEN này.

Khi mới triển khai chúng tôi thấy:

 - Đây là một mô hình dạy học mới về phương pháp và thiết kế sách nên giáo viên chưa thể một sớm một chiều mà thay đổi hoàn toàn được phương pháp truyền thống. Thời gian tập huấn không nhiều chỉ trên lý thuyết và được dự giờ 2 tiết nên giáo viên còn rất lúng túng trong quá trình giảng dạy cũng như trong đánh giá học sinh. Nhiều bậc CMHS còn bận rộn trong việc mưu sinh nên chưa dành nhiều thời gian bảo ban con học tập hoặc đánh giá con theo yêu cầu của giáo viên.

- Học sinh mới làm quen với mô hình lớp học mới này nên nhóm trưởng chưa mạnh dạn trong việc điều hành nhóm cũng như tương tác với các bạn trong nhóm.  Mới vào đầu năm học học sinh lớp 2 một số em đọc, viết chưa thật thông thạo nên các em còn khó khăn trong việc đọc chỉ dẫn của các hoạt động, chưa nắm được các lôgô ở các hoạt động…

- Chưa có bàn ghế rời để học nhóm nên có phần bất tiện cho việc sắp xếp nhóm cho học sinh. Chưa có đồ dùng dạy học theo các bài học nên giáo viên và CMHS phải tự làm đồ dùng dạy học rất vất vả và tốn kém.

Sau 6 tuần dạy theo mô hình này, tôi thấy:

- Học sinh bước đầu phát huy được “5 tự”: tự học, tự đánh giá, tự tin, tự giác, tự chủ. Đảm bảo mục tiêu: chuyển Giáo dục sang tự Giáo dục; Hoạt động Dạy của Giáo viên sang hoạt động Học của học sinh; Dạy học theo lớp chuyển thành học theo nhóm; Học theo thầy thành học theo sách. Học sinh phát huy được các kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.

- Hội đồng tự quản do các em tự bầu có chức năng nhiệm vụ của từng vị trí, bước đầu các em đã dần quen với công việc tự điều hành.

- Đầu tháng 10, CM phối hợp với Công đoàn phát động phong trào Thi đua trong nữ GV: “Khéo tay- hay làm”. Một số công cụ để tổ chức hoạt động của HĐTQ học sinh được bổ sung như: Góc sinh nhật, góc cộng đồng, góc sản phẩm của em … Nhiều lớp đã huy động phụ huynh tham gia tích cực dưới sự hướng dẫn của GV tiêu biểu như lớp 2A,2B,2C,3A.

Tồn tại:  Một số nhóm HS việc tự quản, điều hành của nhóm trưởng cho tổ viên thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế vì hình thành kỹ năng tự quản cho học sinh là một quá trình lâu dài, đòi hỏi giáo viên phải biết áp dụng nhiều phương pháp giáo dục thích hợp, nhằm tác động tích cực đến nhận thức của học sinh, đồng thời bồi dưỡng cho học sinh cách điều khiển tập thể còn phụ thuộc vào khả năng của HS.

  Một số GV việc tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, học hỏi ở bạn bè đồng nghiệp để tìm ra cách dạy hiệu quả còn hạn chế dẫn đến giờ dạy, việc hướng dẫn HS một số hoạt động chưa đạt yêu cầu, trợ giúp HS chưa đúng lúc, đúng chỗ..

- Với “Hoạt động ứng dụng” phụ huynh học sinh tham gia trong việc học tập, giúp đỡ con cái chưa nhiều còn hạn chế vì một số phụ huynh sự hiểu biết và thời gian dành cho việc học của con còn hạn chế.

    Sau hơn nửa năm học( đến GKII) giờ đây mỗi HS VNEN khi tới trường đã có ý thức được mình phải bắt đầu và kết thúc hoạt động học tập như thế nào, không cần tới sự nhắc nhở của GV và bạn cùng lớp. Hoạt động nhóm (Nhóm lớn và nhóm đôi) nhóm trưởng biết điều hành toàn bộ hoạt động của nhóm; biết huy động các thành viên tham gia tích cực vào nội dung thảo luận hoặc các nhiệm vụ, các bài tập, tổng kết lại ý kiến của nhóm để báo cáo với thầy cô giáo; Các thành viên trong nhóm chủ động làm việc độc lập với tài liệu, thao tác với đồ vật, quan sát trực tiếp, phân tích, so sánh và tương tác với các bạn cùng nhóm, với GV. GV đã có kĩ năng trong việc tổ chức hoạt động giúp các em thực hiện các nhiệm vụ học tập, biết tự đánh giá  và đánh giá kết quả học tập của cá nhân và của nhóm…. GV biết kết hợp 5 bước dạy của mình và 10 bước học tập của HS; Vai trò của GV thay đổi thật sự, GV là người tổ chức, hướng dẫn và khích lệ các em tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển kĩ năng giao tiếp, ứng xử dân chủ, bình đẳng. GV không phải soạn bài nhưng dành thời gian nghiên cứu kĩ bài học trước khi lên lớp, làm đồ dùng, sưu tầm tư liệu giúp HS gắn kiến thức với thực tiễn; vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức phù hợp với nội dung bài dạy và đối tượng HS, đánh giá hiệu quả đạt được sau mỗi tiết dạy để có biện pháp cụ thể khắc phục những tồn tại ở tiết học sau. Trong các tiết dạy, GV thực hiện đổi mới phương pháp dạy đó là: không giảng bài để truyền thụ kiến thức cho HS mà hướng dẫn học sinh làm việc với tài liệu HDH qua hình thức hoạt động nhóm có sự hỗ trợ của đồ dùng học tập. Với phụ huynh giờ đây có thể yên tâm với kết quả học tập của con em mình vì kết quả KTĐK cuối kì I : 100 % HS khối 2-3 đều đạt điểm 5 trở lên và các em mạnh dạn, tự tin, khả năng giao tiếp, hợp tác tốt hơn.  

II. Một số bài học kinh nghiệm:

- Làm tốt công tác tham mưu, tuyên truyền, xã hội hóa về mô hình VNEN địa phương, cộng đồng và CMHS, đặc biệt là sự tham gia của CMHS và cộng đồng trong các HĐGD học sinh.  

- Triển khai đầy đủ, kịp thời các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp; chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động của nhà trường.

- Chú trọng việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, giáo viên: có sự nhận thức đúng đắn, hiểu biết sâu về mô hình trường học mới; tích cực đổi mới PP quản lý, PPDH, tăng cường tự học, phát huy khả năng sáng tạo trong làm đồ dùng và tổ chức lớp học, tổ chức dạy học. CBQL phải năng động, đội ngũ GV phải sẵn sang, quyết tâm và luôn luôn cầu thị. CSVC đầy đủ; lớp học không quá 30 em, khả năng Tiếng Việt của HS lớp 2: Biết đọc rõ ràng, rành mạch, biết đọc hiểu, biết hoạt động nhóm, cặp. Được sự đồng thuận của cộng đồng.

- Tăng cường các hoạt động ngoại khóa, hoạt động tập thể, xây dựng môi trường thân thiện giúp học sinh mạnh dạn, tự tin, rèn luyện kĩ năng giao tiếp và phát triển toàn diện.

Gần kết thúc năm học, đôi điều chia sẻ cùng đồng nghiệp để những trường chưa tổ chức dạy học theo Mô hình trường học mới mạnh dạn tự nguyện đăng kí để GV được Tự học, Tự bồi dưỡng, Tự chủ, Linh hoạt và HS tự giáo dục: Tự giác, Tự quản, Tự trọng, Tự tin, Tự học, Tự đánh giá…

                                                                       Người viết: Nguyễn Thị Hùng - PHT


Nhắn tin cho tác giả
Lê Ngọc Sơn @ 09:30 10/03/2015
Số lượt xem: 938
Số lượt thích: 11 người (Nguyễn Thị Tân, Đường Thị Hòe, Đoàn Thanh Long, ...)
 
Gửi ý kiến