NỘI DUNG CHÍNH

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phan Duy Nghĩa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    6 khách và 0 thành viên

    Điều tra ý kiến

    Bạn thích Mục nào nhất ?
    Thông báo, trao đổi
    Olympic Toán Tuổi thơ
    Tiếng nói từ cơ sở
    Mô hình dạy học mới
    Sau giờ lên lớp

    GHÉ ZÔ ! GHÉ ZÔ !

    • icon-new

    GDTH Hà Tĩnh

    Giáo dục tiểu học là cấp học nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân, đây là cấp học vô cùng quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách con người. Vì vậy nếu giáo dục tiểu học được triển khai tốt, chắc chắn, đúng hướng sẽ có tác động một cách bền vững tới các bậc học tiếp theo. Với tầm quan trọng như vậy, thời gian qua, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh đã tích cực tiếp cận đổi mới công tác quản lý chỉ đạo, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu của giáo dục trong nước và quốc tế đối với giáo dục tiểu học, để từng bước đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, như: Thực hiện Mô hình trường học mới Việt Nam – VNEN; Triển khai dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo Tài liệu Công nghệ giáo dục; Áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”; Giáo dục Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch. Song song với việc thực hiện tốt các mô hình dạy học mới, giáo dục tiểu học Hà Tĩnh còn có những cách làm mới, sáng tạo của riêng mình, đó là: Xây dựng quy hoạch, mở rộng diện tích các nhà trường; Xây dựng thư viện trường học; Tổ chức bán trú cho học sinh; Tăng cường giáo dục kĩ năng sống; Đưa dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vào các trường tiểu học. Những hoạt động này thật sự đã góp phần làm cho giáo dục tiểu học Hà Tĩnh phát triển một cách bền vững, là bước đi đầu tiên khả quan, thực sự có ý nghĩa tiếp cận mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT mà Nghị quyết số 29 của BCHTW khoá XI đã chỉ ra. Hành trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đang ở chặng đường đầu tiên, việc tiếp cận cái mới, tiên tiến từ bỏ cái cũ, cái không còn phù hợp là rất khó khăn. Khó khăn hơn là làm sao thực hiện thành công cái mới mà đạt được kết quả như mong đợi, đó là tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục. Trên hành trình đổi mới và vượt khó này để thành công đòi hỏi sự nổ lực rất lớn của các nhà quản lý giáo dục, đặc biệt đội ngũ hiệu trưởng, giáo viên. Bên cạnh đó không thể thiếu sự đồng thuận, sự chung tay, tham gia tích cực của toàn xã hội./.

    Gốc > Chuyên đề: Phát triển năng lực > Lý thuyết >

    CHUYÊN ĐỀ: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 5

    CHUYÊN ĐỀ: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 5

    Để dạy tốt môn lịch sử ở Trường Tiểu học đạt hiệu quả cao người giáo viên phải có kiến thức lịch sử, phải nắm chắc nội dung và phương pháp tổ chức quá trình dạy học. Đây là một hoạt động nhận thức khoa học, nếu giải quyết được vấn đề này sẽ có tác dụng không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học cho môn lịch sử nói chung và môn lịch sử lớp 5 nói riêng.

    Qua nghiên cứu khảo sát một số đối tượng học sinh, tôi nhận thấy: Hầu hết các em không thích học lịch sử, nắm kiến thức lịch sử còn mơ hồ. Điều này rất đáng lo ngại và là một câu hỏi lớn cho những người làm công tác giáo dục. Mở đầu bài diễn ca năm 1942 Bác Hồ đã nhắc nhở:

    “Dân ta phải biết sử ta,

    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

    1- Đổi mới phương pháp dạy lịch sử

    Đổi mới phương  pháp dạy lịch sử ở trường tiểu học là quá trình áp dụng phương pháp dạy học hiện đại vào nhà trường, trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của phương pháp dạy học truyền thống nhằm thay đổi cách thức, phương pháp học tập của học sinh: Chuyển từ học tập thụ động, ghi nhớ kiến thức là chính sang học tập tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kỷ năng vận dụng kiến thức vào thực tỉên. Để đổi mới phương pháp học tập của học sinh tất nhiên phải đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên. Đổi mới phương pháp dạy học là quá trình:

    - Chuyển từ giáo dục truyền thụ một chiều, học tập thụ động, chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng hình thành năng lực tự học dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên

    - Đổi mới hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học tập của học sinh trở nên lý thú, gắn với thực tiển, gắn với cuộc sống; kết hợp dạy học cá nhân với dạy học theo nhóm nhỏ, tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa học sinh trong quá trình học tập.

    Muốn làm tốt được những vấn đề trên việc đầu tiên người giáo viên phải đưa ra được một “mô hình dạy học” theo quan điểm đổi mới.

    • Chóng tôi xin đưa ra “mô hình dạy học” theo quan điểm đổi mới như sau:

    a)    Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập:

    Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt phần nêu vấn đề của giáo viên phải đạt được cácc yêu cầu sau:

                 + Lời dẫn phải súc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh

                 + Phải đề cập tới cốt lỏi của bài học

                 + Tạo ấn tượng, gợi trí tò mò của học sinh

    b)    Tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu.

     Việc tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (Kênh chữ, kênh hình) trong SGK,  giúp các em có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, hiện tượng lịch sử. Đây là khâu cực kỳ quan trọng của quá trình nhận thức lịch sử. Bởi nếu không dựa trên các hình ảnh của sự kiện thì học sinh không thể nhận thức được tư duy. Ở bước này có thể thực hiện bằng các biện pháp sau:

                + Giáo viên trình bày các sự kiện, sự việc, hiện tượng bằng phương pháp tường thuật, miêu tả, kể chuyện kết hợp với các phương pháp trực quan để học sinh thấy rõ được hình ảnh quá khứ.

                + Học sinh làm việc với các sự kiện được trình bày trong SGK.

    c)     Tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập:

     Giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập mà bản thân đã nêu ở đầu giờ học hoặc đầu mỗi phần bài học.

    Ở bước này, học sinh có thể trình bày ý kiến các nhân (Viết hoặc nói)Cũng có thể trao đổi, thảo luận trong nhóm để rút ra những ý kiến chung.

    d) Kết luận vấn đề

    Giáo viên cho học sinh nhận xét đánh giá những ý kiến cá nhân hoặc nhóm xem các bạn nói đúng hay sai, cần bổ sung thêm gì không ? Sau đó giáo viên kết luận:

               + Khẳng định những kết quả học tập của những học sinh.

               + Chốt lại những vấn đề cần nắm chắc của bài học

    2- Phương pháp dạy học theo hướng tích cực

    a) Bài học có nội dung về tình hình kinh tế chính trị, văn hóa - xã hội

             (Trong chương trình lớp 5 có các bài: bài 4; bài 12; bài 13; bài 16; bài 19; bài 21;  bài 27 và bài 28)

         Dạng bài này có nhiều ở phần lịch sử lớp 5, nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta sau mỗi thời kỳ(giai đoạn nhất định). Để dạy tốt dạng bài này giáo viên cần:

    -Phải mô tả được: Tình hình nước ta (cuối thời kỳ hay sau thời kỳ nào đó) như thế nào? (tình cảnh đất nước, chính quyền, cuộc sống của nhân dân như thế nào?)

    - Trong tình cảnh đó chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như thế nào?

    - Kết quả của việc alàm đó.

    - Vì vậy, khi dạy loại bài này giáo viên triệt để sử dụng phương tiện trực quan: tranh ảnh, kênh hình kết hợp với mô tả sinh động nhằm tái tạo hình ảnh sinh động về sự kiện, hiện tượng, rèn luyện kỹ năng mô tả, nhận xét, đánh giá, so sánh, cảm nhận và liên hệ để học sinh thấy rõ giá trị văn hoá nghệ thuật trong đời ssống tinh thần.

     Ví dụ: Khi dạy bài “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” giáo viên phải giúp học sinh năm được:

    -Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám như thế nào? (Khó khăn chồng chất: Các đế quốc, các thế lực phản động chống phá cách mạng; lũ lụt, hạn hán, nông nghiệp đình đốn dẫn tới nạn đói, nạn dốt...)

    - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gì để giải quyết nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm? (Lập “ Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “ Ngày đồng tâm”, Kêu gọi tăng gia sản xuất với khẩu hiệu: “ Không một tấc đất bỏ hoang!”, “ Tấc đất tấc vàng”, Phát động “ Tuần lễ vàng”. Phát động phong trào xoá nạn mù chữ; Ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo...)

    - Kết quả của những biện pháp đó là gì? ( Từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm)

    b) Dạng bài có nội dung về nhân vật lịch sử: (Trong chương trình SGK- Lịch sử lớp 5, Dạng bài này có ở các bài: bài 1; bài 2; bài 5; bài 6).

              Ở dạng bài này, trong chương trình Tiểu học lớp 5 không giới thiệu Tiểu sử của các nhân vật, mà thông qua những sự kiện cơ bản trong sự nghiêp của các nhân vật để làm sáng tỏ lịch sử dân tộc. Như vậy, nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với sự kiện lịch sử. Giáo viên phải biết khai  thác tốt các sự kiện để làm nổi bật những hoạt động và công lao to lớn của nhân vật.

              Khi dạy những bài này giáo viên cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:

    -Mỗi một bài đều có hình ảnh (Tranh vẽ hoặc chân dung) nhân vật lịch sử để giúp học sinh biết những diện mạo cũng như hình thức bên ngoài của nhân vật. Giáo viên cần sử dụng và khai thác tốt những bức ảnh này để phục vụ nội dung bài học.

    - Khi trình bày về nhân vật, phải cho học sinh biết nhân vật lịch sử đó là người như thế nào? (Sinh ra khi nào? Ở đâu? làm gì? có đặc điểm, tính cách gì nổi bật...)

    - Phải mô tả và tường thuật (hay kể lại) những hoạt động của họ để làm cơ sở cho việc đánh giá khách quan, công lao của các nhân vật đó đối với lịch sử

    - Trên cơ sở khai thác những nội dung đó, giáo viên tiến hành giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật lịch sử.

    Thông thường đối với dạng bài này giáo viên nên sử dụng các phương pháp như kể chuyện, sắm vai .... Giáo viên có thể vừa là người dẫn chuyện, trực tiếp kể chuyện có thể là người dẫn dắt, gợi ý giúp học sinh nắm vững cốt truyện. Ngoài ra có thể cho học sinh sắm vai.

       Ví dụ: Khi dạy bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” giáo viên có thể dùng nhiều phương pháp như:

     - Phương pháp kể chuyện: Tìm hiểu về quê hương và thời niên thiếu của Nguyễn tất Thành: “ Nguyễn Tất Thành sinh ngày 19/05/1890 tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Bố tên là Nguyễn Sinh Sắc và mẹ là Hoàng Thị Loan. Thuở nhỏ Nguyễn Tất Thành còn có tên gọi là Nguyễn Sinh Cung. Lớn lên trong bối cảnh nước mất, phải sống trong cảnh tủi nhục. Nguyễn tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh đất nước và nổi thống khổ của nhân dân ...”

              - Phương pháp sắm vai: Ở cuộc gặp gỡ giữa Nguyến Tất Thành và anh Lê:

              “ Anh Thành: - Anh Lê, anh có yêu nước không ?

              Anh Lê: - (Ngạc nhiên) Tất nhiên là có chứ.

              Anh Thành : - Anh có thể giữ bí mật được không?

              Anh Lê : - Có !

              Anh Thành: - Tôi muốn ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác.Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, nhất là những lúc ốm đau. Anh muốn đi với tôi không?

              Anh Lê: - Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi ?

              Anh Thành: - Đây, tiền đây – Anh Thành vừa giơ hai bàn tay ra vừa nói – Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ những việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với chúng tôi chứ ? ....”

    c)Dạy học các bài có nội dung đề cập tới các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công, tiến công .....

          Đây là loại bài có nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Do đó, giáo viên phải tái hiện sự kiện sinh động cụ thể. Sử dụng câu hỏi về sự phát sinh của sự kiện: Nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp hay hoàn cảnh,bối cảnh lịch sử của sự kiện. Đây là một đặc điểm tư duy lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh.

              Mặt khác, đối với loại bài này phần quan trọng nhất là trình bày diễn biến, phát triển của sự kiện lịch sử. Vì vậy phải cho học sinh nắm vững mốc thời gian bắt đầu diễn ra sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử, các đường tiến công, diễn biến trận đánh ...... bằng cách nêu vấn đề, câu hỏi .....

              Sau phần diễn biến là hướng dẫn học sinh tìm hiểu kết quả sự kiện đó và rút ra ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm. Đối với loại bài này giáo viên giúp học sinh nhận thức mối quan hệ nhân quả của sự kiện, thắng lợi hay thất bại đều có ảnh hưởng nhất định đối với lịch sử.

              Với dạng bài này (trong sách giáo khoa là các bài: Bài 3, bài 7, bài 8, bài 9, bài 14, bài 15, bài 17, và bài 20) thì miêu tả, tường thuật kết hợp với trực quan là những phương pháp chủ đạo. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu về tư liệu lịch sử rồi mô tả, tường thuật lại diễn biến của sự kiện, giáo viên có vai trò hổ trợ, bổ sung giúp học sinh tái hiện lại lịch sử, xây dựng lại biểu tượng lịch sử một cách hoàn chỉnh hơn.

              Ví dụ: Khi dạy bài “ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” giáo viên cần kết hợp trực quan với tường thuật để tái hiện 3 đợt tấn công của quân ta vào Điện Biên Phủ (Sử dụng lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ - giáo viên vừa tường thuật vừa chỉ trên lược đồ) chẳng hạn:

    “ Ngày 13/03/1954, quân ta nổ súng mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong suốt 5 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, quân ta lần lượt tiêu diệt các vị trí phòng ngự quan trọng của địch ở phía Bắc như: Đồi Him Lam, Đồi Độc Lập, Bản Kéo. Trong đợt tiến công này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng, trong đó hình ảnh anh Phan Đình Giót ở trận đánh đồi Him Lam đã lấy thân mình lấp lổ Châu Mai cho đồng đội xong lên tiêu dịch địch là một tấm gương như thế ...”

    d-    Dạng bài ôn tập, tổng kết

     Đây là loại bài học nhằm hệ thống hoá và cũng cố lại những kiếm thức đã học cho học sinh sau mỗi một thời kỳ ( giai đoạn lịch sử), iúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, nhận thức lịch sử một cách sâu sắc, toàn diện hơn. Đối với loại bài này giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho học sinh, lựa chọn phương pháp phù hợp để mạng lại hiệu quả tiết dạy cao. Đặc biệt giáo viên dựa vào câu hỏi trong SGK, thiết kế hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị trước, Trong tiến trình dạy học, giáo viên phải thu hút học sinh vào công việc, phát huy cao nhất tính tích cực của học sinh trong việc trao đổi những câu hỏi mà giáo viên đặt ra, thực hiện các công việc như vẻ sơ đồ, lập bảng niên biểu, thống kê, tìm các dẫn chứng.... Đây là yêu cầu quan trọng để phát triển tư duy, rèn luyện kỷ năng rèn luyện bộ môn.

              Thông thường đối với dạng bài ôn tập, tổng kết, giáô viên vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp (phân tích, tổng hợp, khái quát hoá) kết hợp với vấn đáp – tìm tòi, tổ chức làm việc theo nhóm. Tuỳ từng phần nội dung cụ thể mà giáo viên lựa chọn phương pháp cho phù hợp. Trong đó, hoạt động nhóm, báo cáo kết quả là những phương pháp chiếm nhiều thời gian nhất ngoài ra cỏ thể sử dụng trò chơi lịch sử.

              Ví dụ: Khi dạy bài “Ôn tập: Chín năm kháng chiến, bảo vệ độc lập dân tộc (1945-1954). Sau khi vào bài giáo viên có thể nêu hệ thống câu hỏi (dựa vào SGK) để học sinh suy nghỉ và tập trung giải quyết các vấn đề:

    -Tình hình đất nước sau Cách Mạng Tháng 8 Thành công

    - Chín năm kháng chiến chống pháp bắt đầu năm nào? Kết thúc vào năm nào?

    - Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch thể hiện điều gi ?

    - Hệ thống một số sự kiện tiêu biểu nhất trong chín năm chống thực dân Pháp xâm lược. Về hệ thống sự kiện, giáo viên có thể cho học sinh làm theo nhóm để hoàn thành. Chẳng hạn

    3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.

    3.1. Bồi dưỡng kiến thức hiểu biết về lịch sử - tự làm giàu vốn sử học trong mỗi GV.

     GV dạy môn Lịch sử cấp phổ thông không phải là người chỉ nắm chắc SGK để truyền thụ lại cho học sinh mà phải có tầm hiểu biết sâu rộng. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một phong cách giảng dạy sinh động, hấp dẫn đối với HS, GV tích cực tự bồi dưỡng, thường xuyên học tập nghiên cứu và ghi chép lại những sự kiện, câu chuyện, hình ảnh, nhân chứng lịch sử.

    3.2. Tổ chức cho học sinh tiếp cận tốt các nguồn sử liệu qua các phương tiện trức quan nhăm nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử.

    Lịch sử là môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, tái hiện lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, thì phương tiện trực quan là yếu tố cần thiết giúp HS hiểu biết về quá khứ một cách sinh động nhất.

    3.3. Sử dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng dạng bài học lịch sử.

     Mỗi loại bài có những cách dạy riêng, GV phải biết lựa chọn cho phù hợp với nội dung của bài và phải biết kết hợp với nhiều phương pháp, hình thức dạy học khác nhau trong một giờ dạy. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh là một trong những yếu tố đưa đến hiệu quả cao của bài học.

     Từ cách dạy trên, bản thân tôi đã tìm ra hướng dạy để giúp học sinh tiếp thu

    4. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.

    4.1. Bồi dưỡng kiến thức hiểu biết về lịch sử - tự làm giàu vốn sử học trong mỗi GV.

     GV dạy môn Lịch sử cấp phổ thông không phải là người chỉ nắm chắc SGK để truyền thụ lại cho học sinh mà phải có tầm hiểu biết sâu rộng. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một phong cách giảng dạy sinh động, hấp dẫn đối với HS, GV tích cực tự bồi dưỡng, thường xuyên học tập nghiên cứu và ghi chép lại những sự kiện, câu chuyện, hình ảnh, nhân chứng lịch sử.

    4.2. Tổ chức cho học sinh tiếp cận tốt các nguồn sử liệu qua các phương tiện trức quan nhăm nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử.

    Lịch sử là môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, tái hiện lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, thì phương tiện trực quan là yếu tố cần thiết giúp HS hiểu biết về quá khứ một cách sinh động nhất.

    4.3. Sử dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng dạng bài học lịch sử.

     Mỗi loại bài có những cách dạy riêng, GV phải biết lựa chọn cho phù hợp với nội dung của bài và phải biết kết hợp với nhiều phương pháp, hình thức dạy học khác nhau trong một giờ dạy. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh là một trong những yếu tố đưa đến hiệu quả cao của bài học.


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thị Thu Hiền @ 19:51 13/05/2018
    Số lượt xem: 44
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến