Gốc > Tự học, tự bồi dưỡng > Hiểu biết chung >

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN 5

1. Phương pháp vấn đáp:

a. Bản chất

Phương pháp vấn đáp là phương pháp, trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi để HS trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và cả GV, qua đó HS lĩnh hội đuợc nội dung bài học.

Căn cứ vào tính chất hoạt động nhân thức, người ta phân biệt 3 hình thức vấn đáp sau:

- Vấn đáp tái hiện: GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả lơì dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Đó là hình thức được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức vừa mới học.

- Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để HS dễ hiểu, dễ nhớ. Hình thức này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn.

- Vấn đáp gợi mở (hay còn gọi là vấn đáp tìm tòi): GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để dẫn dắt HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết.

Trong quá trình dạy học, GV có thể sử dụng  cả 3 hình thức, tuy nhiên cần khuyến khích GV sử dụng hình thức vấn đáp tìm tòi.

b. Quy trình thực hiện

Ở Tiểu học, GV thường tổ chức hoạt động của HS trong phương pháp vấn đáp theo các bước sau:

Bước 1: GV đặt câu hỏi nhỏ, riêng rẽ.

Bước 2: GV chỉ định từng HS trả lời hoặc để học sinh tự nguyện trả lời (mỗi học sinh trả lời một câu hỏi và trước mỗi câu hỏi nên để thời gian cho HS suy nghĩ câu trả lời)

Bước 3: GV tổng hợp ý kiến và nêu ra kết luận dựa trên những câu trả lời đúng của HS

 c. Ưu điểm

- Kích thích tính tích cực, độc lập sáng tạo trong học tập của HS

- Bồi dưỡng cho HS năng lực diễn đạt những vấn đề học tập bằng lời.

- Giúp GV thu thập thông tin từ phía HS để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học.

- Tạo không khí học tập sôi nổi trong giờ học.

 d. Hạn chế: Nếu người giáo viên chưa có nghệ thuật tổ chức, điều khiển phương pháp đàm thoại thì mang một số hạn chế sau:

- Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch bài học.

- Có thể biến đàm thoại thành cuộc tranh luận giữa GV và học sinh, giữa các thành viên của lớp với nhau.

* Một số lưu ý

- Giáo viên cần chuẩn bị thật tốt hệ thống câu hỏi. Các câu hỏi có liên quan chặt chẽ với nhau, câu hỏi trước là tiền đề cho câu hỏi sau, câu hỏi sau là sự kế tục và phát triển kết quả của câu hỏi trước. Mỗi câu hỏi là một cái “nút” của từng bộ phận mà HS cần lần lượt tháo gỡ thì mới được kết quả cuối cùng.

- Để tăng thêm hiệu quả của việc sử dụng phương pháp vấn đáp, GV cần tổ chức đối thoại theo nhiều chiều: GV " HS, HS "HS; HS "GV.

2. Phương pháp trực quan:

a. Bản chất

Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở tiểu học nghĩa là giáo viên tổ chức ,hướng dẫn học sinh hoạt động  trực tiếp trên các hiện tượng  sự vật cụ thể (hình vẽ ,đồ  vật ,hiện tượng thực tế xung quanh ,…) để từ đó nắm được kiến thức kỹ năng môn toán .

b. Quy trình

- Bước 1: Tổ chức cho học sinh hoạt động trực tiếp  trên các đồ (hình vẽ ,đồ vật ,hiện tượng cụ thể ..)  học sinh tự làm việc ,tự phát hiện  (với sự hỗ trợ của giáo viên ).từ đó hình thành kiến thức mới

- Bước 2: Củng cố các kiến thức mới thu nhận  được thông qua các bài tập  vận dụng có gắn với hình ảnh trực quan .

- Bước 3: Luyện tập củng cố kiến thức ,kỹ năng thông qua các bài tập  trên các đối tượng toán học  (số ,hình học ,sơ đồ biểu bảng ..) mà không kèm theo  các hình ảnh trực quan .lúc này học sinh  đã có thể làm việc trực tiếp  với các đối tượng toán học thuần túy  mà không cần  phải dựa vào các hình ảnh trực quan ban đầu .

c. Ưu điểm:

- Phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh  tiểu học

- Trong quá trình sử dụng PPTQ ,học sinh sẽ huy động được các giác quan  thông qua các hoạt động  như : nghe , nhìn ,thực hành ( tren các đồ dùng học tập ).điều đó sẽ giúp học sinh  không chỉ phát triển năng lực thực hành  mà còn giúp phát triển năng lực tư duy trừu tượng  và trí tưởng tượng

d. Hạn chế :

 Nếu sử dụng các đồ dùng dạy học một cách tùy tiện  hoặc có hình thức màu sắc  quá cầu kỳ sẽ che lấp  dấu hiệu bản chất  của nội dung dạy học ,khi đó việc sử dụng đồ dùng dạy học sẽ trở nên phản tác dụng .

Nếu không chuyển dần, chuyển kịp thời  các phương tiện  và đồ dùng trực quan  từ dạng cụ thể sang dạng trừu tượng  hơn để phù hợp với  trình độ nhận thức của học sinh  thì sẽ hạn chế  sự phát triển trí tuệ  và khả năng tư duy của học sinh .

Đặc biệt lưu ý  là trong quá trình hình thành tri thức hoặc khái niệm mới ,nếu việc tổ chức cho học sinh hoạt động  trên các phương tiện ,đồ dùng trực quan  theo một tiến trình không phù hợp  với quá tình nhận thức  và tư duy của học sinh  thì vô tình nghười giáo viên có thr dẫn học sinh đến  những nhận thức không đúng  hoặc khó tiếp thu các tri thức đó

* Một số lưu ý: Khi sử dụng PPTQ giáo viên cần luuw ý các yêu cầu sau đây:

- Chuẩn bị chu đáo các phương tiện  và dồ dùng trực quan  phù hợp với từng giai đoạn học tập của học sinh .

- Xác định rõ mục đích  cũng như cách thức và tiến trình  sử dụng các phương tiện ,đồ dùng trực quan .

Xây dựng hệ thống câu hỏi và hoạt động làm mẫu  nhằm giúp học sinh thực hiện các hoạt động thưc hành trên các phương tiện và đồ dùng trực quan. Dự kiến nhưng khó khăn, sai lầm mà học sinh có thể mắc phải. Bố trí, sắp đặt vị trí các phương tiện và đồ dùng trực quan một cách hợp lý  để thuận tiện trong sử dụng

- Sử dụng đúng lúc ,đúng mức độ các phương tiện và đồ dùng trực quan .tránh lạm dụng PPTQ.

- Chú ý bước đầu  giúp học sinh hình thành  kỹ năng thực hành  với các phương tiện  và đồ dùng trực quan  trong quá trình dạy học

- Ngoài bộ đồ dùngdạy học  tối thiểu ,giáo viên cần tăng cường  sử dụng phiếu học tập  để tổ chức các hoạt động dạy học của học sinh .

3. Phương pháp giải  quyết vấn đề

 a. Bản chất

       -  Giải quyết vấn đề  là phương pháp dạy học  trong đó giáo viên tạo ra  những tình huống sư phạm có chứa vấn đề ; tổ chức hướng dẫn học sinh  phát hiện vấn đề ,hoạt động tích cực,chủ động sáng tạo để  giải quyết vấn đề; thông qua đó học sinh chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện  kỹ năng và đạt được mục đích dạy học khác.

b. Quy trình thực hiện

     - Bước 1: phát hiện vấn đề

     - Phát hiện vấn đề từ một tình huống  gợi vấn đề (thường do thầy tạo ra )

     - Giải thích và chính xác hóa tình huống để hiểu đúng vấn đề được đặt ra.               
     - Phát hiện vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó.

     - Bước 2 : Vạch kế hoạch giải quyết vấn đề.

     - Phân tích, tìm hiểu vấn đề , làm rõ mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm .

-         Xác định lược đồ giải quyết vấn đề .

-         Bước 3: Thực hiện kế hoạch

-         Tiến hành giải quyết vấn đề, đưa ra lời giải .

-         Bước 4: Đánh giá kết quả; Phân tích, Khai thác lời giải.

-         Kiểm tra tích hợp lí, Tối ưu  lời giải.

-         Đề xuất những vấn đề mới cóliên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa , lật ngược vấn đề ,… Và giải quyết vấn đề nếu có thể .

c. Ưu điểm:

      - Phát triển tư duy và  nâng cao tính tự lực, tích cực của hs

      - Tạo hứng thú học tập cho hs.

      - Thông qua việc giải quyết vấn đề , hs lĩnh hội tri thức, kĩ năng và cả phương pháp nhận thức. Hoạt động học tập này dần hình thành và phát triển ở hs năng lực giải quyết vấn đề , một năng lực hết sức cần thiết để con người thích ứng với sự phát triển của xã hội.

 d. Hạn chế.

   - Trong một số trường hợp, việc tổ chức dạy họctheo phương pháp GQVĐ đòi hỏi phải có nhiều thời gian , chuẩn bị công phu hơn so với bình thường.

   - Một trong những khó khăn đối với GV khi tiến hành dạy học GQVĐlà tạo tình huống có vấn đề.

* Một số lưu ý :

    -  Dạy học GQVĐ cố thể áp dụng trong các giai đoạn của quá trình dạy học : hình thành kiến thức mới , cũng cố kiến thức và kĩ năng, vận dụng kiến thức .

-         Dạy học GQVĐ cần hướng tới mọi đối tượng hs chứ không chỉ áp dụng riêng cho hs khá giỏi.

      - Có nhiều mức độ khác nhau khi tiến hành dạy học GQVĐ, chẳng hạn như :

+ GV tạo tình huống có vấn đề HS đọc lập phat hiện và giải quyết vấn đề, GV hướng dẫn để hs hình thành  tri thức mới .

+ GV tạo tình huống có vấn đề, Gv tổ chức cho hs phát hiện vấn đề, Gv  hướng dẫn để hs giải quyết từng bước vấn đề , hình thành tri thức mới.

+ GV tạo tình huống , Gv nêu vấn đề, hướng dẫn hs phát hiện vấn đề, hướng dẫn hs giải quyết vấn đề , hình thành tri thức mới .

+ GV đưa ra tình huống và trực tiếp nêu vấn đề, hs tìm cách giải quyết vấn đề, GV hướng dẫn hs để hình thành tri thức mới.

* Tùy từng trường hợp cụ thể mà GV cố thể vận dụng các mức độ dạy học GQVĐ cho phù hợp.

- GV cần hiểu đúng các cách tạo tình huống có vấn đề và vận dụng các cơ hội để tạo tình huống dó . Một cách thông dụng để tạo tình huống có vấn đề la:

+ Xây dựng tình huống có vấn đề từ thực tiễn.

+ Tạo tình huống có vấn đề từ các kiến thức học thường ngày .

+Xét tương tự .

+ Lật ngược một câu khẳng định đã biết .

+  Tổ chức hoạt động khái quát hóa.

+ Tổ chức hoạt động trên các đồ vật thật , mô hình để rút ra một tri thức toán học ..

4. Phương pháp day học hợp tác theo nhóm nhỏ :

  a. Bản chất:

     - Phương pháp dạy học hợp tác là cách dạy học trong đó GV tổ chức cho hs hoạt động hợp tác với nhau trong các nhóm nhỏ để giải quyết một vấn đề đặt ra, nhằm dạt được mục tiêu học tập .

b. Quy trình thực hiện :

Bước 1: Tổ chức thành lập nhóm .

Bước 2: Đề ra nhiệm vụ : GV xác định nhiệm vụ của từng nhóm và cách tiến hành hoạt động của các nhóm ( trong trường hợp tất cả các nhóm đều thực hiện một nhiệm vụ thì việc giao nhiệm vụ có thể đưa lên bước 1).

Bước 3: Các nhóm thực hiện nhiệm vụ .

Bước 4: Các đại diện nhóm trình bày kết quả , nhận xét, bổ sung, đánh giá.

Bước 5: Hoạt động chung cả lớp ( nếu cần thiết ), GV tổ chức chốt lại các kiến thức mới xuất hiện, đánh giá hoạt động học tập của các nhóm.

c. Ưu điểm :

Tổ chức dạy học theo nhóm giúp hình thành và phát triển cho hs những năng lực của người lao động hiện đại, trong đó hoạt động lao động hợp tác theo nhóm , hoạt động giao tiếp, có tính tích hợp là đặc điểm nổi bật của công việc lao động trong tương lai .

-         Tăng cơ hội thảo luận, trao đổi, hợp tác để từ đó hiểu sâu sắc kiến thức hơn,nâng cao chất lương học tập của từng hs.

-         Tăng cường sự đoàn kết trong công việc chung.

-         Giúp hs có cơ hội để tự khẳng định bản thân.

-         Tạo môi trường để giúp đỡ nhau trong học tập. HS kém có điều kiện học tập các bạn trong nhóm , có điều kiện tiến bộ trong quá trình liên tục hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

-         Phát huy tính tích cực trong học tập của hs. Phát triển tư duy sáng tạo, tư duy phê phán cho hs.

d. Hạn chế :

- Việc áp dụng phươn pháp day học hợp tác thường thường bị hạn chế bởi:

 + Không gian chật hẹp của từng lớp học.

  + Thời gian hạn chế của tiết học .

-         Nếu tổ chức học nhóm không tốt, sẽ dẫn đến tình trạng nhiều hs không thực sự làm việc , chỉ dựa vào thành quả của bạn khác .

     * Một số lưu ý:

          - Khi tổ chức dạy học theo nhóm ,cần chú ý phân công hợp lí để mọi thành viên trong nhóm đều tích cực làm việc .

          - Không phải bất cứ lúc nào , việc sử dụng phương pháp này cũng đạt hiệu quả cao.Trong một số sau , có thể tổ chức dạy học teo nhóm:

         + Khi phải tiến hành một công vệc phức tạp gồm nhiều vấn đề nhỏ hơn , một người không làm được hết trong khoảng thời gian ngắn .

        + Tổ chức thảo luận nhằm định hướng và đưa ra cách giải quyết một vấn đề nào đó.

        + Tổ chức thực hành đo đại lượng .

        + Thực hiện nhiệm vụ thu thập số liệu thống kê .

        + Cần tổ chức thử nghiệm nhiều trường hợp để từ đó quan sát kết quả để đi đến một kết luận mang tính quy luật về một số vấn đề càn tới đo đạc và tính toán .

       + Tổ chức trò chơi theo nhóm .

       + Không nên lạm dụng hoạt động nhóm và cần đề phòng xu hướng hình thức ( tránh lối suy nghĩ: đổi mới PPDH là phải sử dụng hoạt động nhóm.


Nhắn tin cho tác giả
Đậu Thị Hoa @ 19:21 21/11/2018
Số lượt xem: 415
Số lượt thích: 1 người (Đậu Thị Hoa)
 
Gửi ý kiến